Top 4 # Tổng Đài Tư Vấn Bảo Hiểm Xã Hội Hà Nội Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 3/2023 # Top Trend | Beyondjewelries.com

Cầm Sổ Bảo Hiểm Xã Hội

Bên cạnh việc cầm sổ bảo hiểm xã hội, có rất nhiều các hình thức dịch vụ vay tiền khác do các công ty tín dụng cung cấp cũng có thể hỗ trợ bạn vay vốn khoản tiền tương đương, giảm thiểu rủi ro nhiều hơn. Bạn chỉ cần cung cấp CMND hoặc thẻ căn cước cho các công ty tín dụng là đã có thể vay một khoản tiền để hỗ trợ giải quyết khó khăn về tài chính trước mắt.

Đăng ký nhiều nơi để tỷ lệ xét duyệt cao Điều kiện để vay tiền online bằng CMND/CCCD

Bảo hiểm xã hội là gì?

Bảo hiểm xã hội được hiểu đơn giản là một hình thức bù đắp một phần tiền lương, thu nhập của người lao động khi người lao động gặp một số khó khăn như: ốm đau, bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động hay người lao động đến tuổi về hưu

Bảo hiểm xã hội được trích một phần nhỏ từ thu nhập hàng tháng của người lao động và một khoản tiền của công ty. Theo Luật quy định, người lao động có trách nhiệm đóng tối đa 25% tổng tiền lương của mình vào bảo hiểm xã hội, 75% còn lại do các công ty, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước đóng cho người lao động. Các công ty, doanh nghiệp có trách nhiệm bắt buộc phải đóng bảo hiểm cho người lao động của mình, với điều kiện người lao động có ký hợp đồng lâu dài (tối thiếu là 6 tháng). Có các mức hưởng bảo hiểm và thời gian đóng bảo hiểm khác nhau của từng người lao động được quy định theo Luật.

Mỗi một người lao động sẽ được cấp một mã số sổ khác nhau. Và được sử dụng xuyên suốt quá trình đóng bảo hiểm của mình. Mỗi khi thay đổi nơi làm việc hoặc hết 1 năm dương lịch, người lao động sẽ được phát tờ bảo hiểm rời của khoảng thời gian đó và tổng hợp vào sổ bảo hiểm (có số sổ bên ngoài tờ bìa) để lưu trữ và quản lý. Với cách tự quản lý này, người lao động cũng sẽ nắm được quá trình đóng bảo hiểm của doanh nghiệp và thời gian được hưởng các quyền lợi bảo hiểm của mình.

Vay tiền từ sổ bảo hiểm xã hội

Thủ tục cầm sổ bảo hiểm xã hội

CMND/ Thẻ căn cước

Sổ bảo hiểm xã hội (bản gốc). Thông tin chủ của sổ bảo hiểm phải trùng khớp với thông tin trên CMND

Tùy các bên cho vay sẽ yêu cầu có cần cung cấp thêm một số các loại giấy tờ khác. Ví dụ: sổ hộ khẩu, hợp đồng lao động, bảng lương,.. để có thể vay được tiền hơn

Thời gian giải ngân sau khi cầm sổ bảo hiểm xã hội cũng rất nhanh chóng, thường chỉ mất vài tiếng để kiểm định hồ sơ của bạn. Thời gian tối đa để bạn được giải ngân khoản vay của mình chỉ trong vòng 24 tiếng.

Có nên cầm sổ Bảo hiểm xã hội để vay tiền

Có rất nhiều các công ty tài chính cho vay theo hình thức cầm sổ bảo hiểm này, từ đó có thể thấy việc đi cầm sổ bảo hiểm hiện nay khá phổ biến. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi người lao động gặp rủi ro, không có bảo hiểm xã hội thì sẽ gây ra nhiều rắc rối cho người lao động. Người lao động không được nhận những khoản tiền đền bù đáng ra mình có thể nhận được. Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp nơi người lao động làm việc có những sai phạm trong việc nộp bảo hiểm cho người lao động thì người lao động cũng không thể đòi quyền lợi nếu đã cầm sổ bảo hiểm.

Thực chất, số tiền nhận được từ việc cầm sổ bảo hiểm không quá lớn. Chỉ khoảng từ 10 triệu đến 50 triệu. Thấp hơn nhiều so với những quyền lợi mà bảo hiểm mang lại nếu người lao động có rủi ro hoặc người lao động đến tuổi nghỉ hưu được nhận khoản trợ cấp một lần. Vì vậy, sổ bảo hiểm chỉ giải quyết được vấn đề khó khăn trước mắt nhưng lại có những bất lợi lâu dài

4.9/5 (25 votes)

Cầm Sổ Bảo Hiểm Xã Hội

Bên cạnh việc cầm sổ bảo hiểm xã hội, có rất nhiều các hình thức dịch vụ vay tiền khác do các công ty tín dụng cung cấp cũng có thể hỗ trợ bạn vay vốn khoản tiền tương đương, giảm thiểu rủi ro nhiều hơn. Bạn chỉ cần cung cấp CMND hoặc thẻ căn cước cho các công ty tín dụng là đã có thể vay một khoản tiền để hỗ trợ giải quyết khó khăn về tài chính trước mắt.

Đăng ký nhiều nơi để tỷ lệ xét duyệt cao Điều kiện để vay tiền online bằng CMND/CCCD

Bảo hiểm xã hội là gì?

Bảo hiểm xã hội được hiểu đơn giản là một hình thức bù đắp một phần tiền lương, thu nhập của người lao động khi người lao động gặp một số khó khăn như: ốm đau, bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động hay người lao động đến tuổi về hưu

Bảo hiểm xã hội được trích một phần nhỏ từ thu nhập hàng tháng của người lao động và một khoản tiền của công ty. Theo Luật quy định, người lao động có trách nhiệm đóng tối đa 25% tổng tiền lương của mình vào bảo hiểm xã hội, 75% còn lại do các công ty, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước đóng cho người lao động. Các công ty, doanh nghiệp có trách nhiệm bắt buộc phải đóng bảo hiểm cho người lao động của mình, với điều kiện người lao động có ký hợp đồng lâu dài (tối thiếu là 6 tháng). Có các mức hưởng bảo hiểm và thời gian đóng bảo hiểm khác nhau của từng người lao động được quy định theo Luật.

Mỗi một người lao động sẽ được cấp một mã số sổ khác nhau. Và được sử dụng xuyên suốt quá trình đóng bảo hiểm của mình. Mỗi khi thay đổi nơi làm việc hoặc hết 1 năm dương lịch, người lao động sẽ được phát tờ bảo hiểm rời của khoảng thời gian đó và tổng hợp vào sổ bảo hiểm (có số sổ bên ngoài tờ bìa) để lưu trữ và quản lý. Với cách tự quản lý này, người lao động cũng sẽ nắm được quá trình đóng bảo hiểm của doanh nghiệp và thời gian được hưởng các quyền lợi bảo hiểm của mình.

Vay tiền từ sổ bảo hiểm xã hội

Thủ tục cầm sổ bảo hiểm xã hội

CMND/ Thẻ căn cước

Sổ bảo hiểm xã hội (bản gốc). Thông tin chủ của sổ bảo hiểm phải trùng khớp với thông tin trên CMND

Tùy các bên cho vay sẽ yêu cầu có cần cung cấp thêm một số các loại giấy tờ khác. Ví dụ: sổ hộ khẩu, hợp đồng lao động, bảng lương,.. để có thể vay được tiền hơn

Thời gian giải ngân sau khi cầm sổ bảo hiểm xã hội cũng rất nhanh chóng, thường chỉ mất vài tiếng để kiểm định hồ sơ của bạn. Thời gian tối đa để bạn được giải ngân khoản vay của mình chỉ trong vòng 24 tiếng.

Có nên cầm sổ Bảo hiểm xã hội để vay tiền

Có rất nhiều các công ty tài chính cho vay theo hình thức cầm sổ bảo hiểm này, từ đó có thể thấy việc đi cầm sổ bảo hiểm hiện nay khá phổ biến. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi người lao động gặp rủi ro, không có bảo hiểm xã hội thì sẽ gây ra nhiều rắc rối cho người lao động. Người lao động không được nhận những khoản tiền đền bù đáng ra mình có thể nhận được. Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp nơi người lao động làm việc có những sai phạm trong việc nộp bảo hiểm cho người lao động thì người lao động cũng không thể đòi quyền lợi nếu đã cầm sổ bảo hiểm.

Thực chất, số tiền nhận được từ việc cầm sổ bảo hiểm không quá lớn. Chỉ khoảng từ 10 triệu đến 50 triệu. Thấp hơn nhiều so với những quyền lợi mà bảo hiểm mang lại nếu người lao động có rủi ro hoặc người lao động đến tuổi nghỉ hưu được nhận khoản trợ cấp một lần. Vì vậy, sổ bảo hiểm chỉ giải quyết được vấn đề khó khăn trước mắt nhưng lại có những bất lợi lâu dài

4.9/5 (22 votes)

#1 Thế Chấp Sổ Bảo Hiểm Xã Hội Để Vay Tiền Có Vi Phạm Pháp Luật Không?

Việc người lao động thế chấp sổ bảo hiểm xã hội để vay tiền là không trái so với quy định của pháp luật.

Nếu người lao động dùng sổ BHXH để thế chấp mà lại tiến hành khai báo mất sổ nếu bị cơ quan bảo hiểm phát hiện sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về thế chấp tài sản như sau:

1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).

2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp”.

Thế chấp sổ bảo hiểm xã hội để vay tiền

Như vậy việc thế chấp tài sản hợp pháp là khi tài sản đó thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Do đó, việc người lao động thế chấp sổ bảo hiểm xã hội để vay tiền là không trái so với quy định của pháp luật. Việc người lao động dùng sổ bảo hiểm của mình để thế chấp cho ngân hàng, cho tổ chức tín dụng hoặc cho một cá nhân nào đó chỉ là một giao dịch dân sự thông thường và không trái với quy định của Bộ luật dân sự.

Vấn đề cấp lại sổ bảo hiểm xã hội đã thế chấp

Hiện nay, các quy định của pháp luật về vấn đề cấp lại sổ bảo hiểm xã hội khá dễ dàng và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động. Người lao động chỉ cần có đơn trình báo mất sổ bảo hiểm xã hội, đơn đề nghị cấp lại sổ bảo hiểm xã hộ, tờ khai cấp sổ… Sau đó, nộp những giấy tờ trên cho cơ quan bảo hiểm xã hội, trong thời hạn giải quyết theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ cấp lại sổ cho người lao động.

Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động khi gặp các sự cố mất sổ bảo hiểm xã hội. Song đáng tiếc có một số trường hợp lợi dụng quy định để báo mất sổ bảo hiểm xã hội và làm thủ tục xin cấp lại sổ bảo hiểm xã hội.

Khi người lao động có gian dối trong việc khai mất sổ để làm lại sổ mới mà bị cơ quan bảo hiểm xã hội phát hiện thì sẽ bị xử lý hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP về vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội:

Như vậy, người lao động dùng sổ bảo hiểm xã hội để thế chấp mà lại tiến hành khai báo mất sổ nếu bị cơ quan bảo hiểm phát hiện sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Những rủi ro có thể xảy ra khi người lao động thế chấp sổ bảo hiểm xã hội

Rủi ro đối với người lao động

Như đã phân tích như trên, người lao động nếu vi phạm vào khoản 1 Điều 27 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Và khi sổ bảo hiểm đã bị cầm cố, thế chấp sẽ ảnh hưởng rất lớn tới những quyền lợi về an sinh xã hội đối với người lao động. Khi có rủi ro xảy ra, mà sổ bảo hiểm của người lao động hiện tại lại không do người lao động giữ, không do công ty giữ và cơ quan bảo hiểm xã hội cũng không quản lý được thì vấn đề giải quyết quyền lợi sẽ rất khó khăn.

Hơn nữa, phần lớn người lao động tiến hành thế chấp sổ bảo hiểm là thế chấp cho cá nhân (có thể là đồng nghiệp, bạn bè,…) vì hiện tại một số ngân hàng sẽ không nhận thế chấp sổ bảo hiểm xã hội và nếu có thì quá trình rà soát quản lý cũng như thủ tục cũng phức tạp hơn. Chính vì vậy, người lao động vay của người khác sẽ phải chịu một mức lãi suất tương tối cao (thường là từ 10% trở lên), với khả năng chi trả thấp nên sẽ có nguy cơ không thể chi trả được. Khi đó, người lao động sẽ không lấy được sổ về và sẽ không được giải quyết những quyền lợi của mình.

Rủi ro đối với người cho vay

Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về quyền của bên nhận thế chấp như sau:

“5. Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Căn cứ vào những quy định trên, khi người lao động không có khả năng thanh toán và người lao động cũng không nhận lại sổ bảo hiểm xã hội (do họ đã khai mất sổ và làm lại sổ khác) thì bên cho vay (ngân hàng, hay một cá nhân) sẽ có nguy cơ rủi ro, thậm chí là mất trắng số tiền cho vay.

Trong trường hợp này, nếu các ngân hàng chấp nhận cho người lao động thế chấp sổ bảo hiểm xã hội thì ngay từ đầu nên có công văn đề nghị phối hợp trong việc cấp và chi trả chế độ cho người lao động đã đem sổ bảo hiểm đi thế chấp để vay tiền, tránh tình trạng người lao động khai báo gian dối là làm mất.

Thế chấp sổ bảo hiểm xã hội

Rủi ro đối với cơ quan bảo hiểm xã hội

Về việc thế chấp sổ bảo hiểm, thực chất chỉ là một quan hệ dân sự, hơn nữa hầu hết là giữa cá nhân với cá nhân, người lao động thế chấp cho một cá nhân để vay một khoản tiền với một mức lãi suất tương đối cao. Chính vì vậy, cơ quan bảo hiểm không thể rà soát hết được tất cả các trường hợp này.

Việc người lao động gian dối trong việc khai mất sổ để làm lại sẽ khiến cơ quan bảo hiểm xã hội gặp rất nhiều rắc rối trong công tác quản lý và chi trả bảo hiểm xã hội.

Khi người lao động thế chấp sổ, đối với trường hợp thế chấp tại ngân hàng thì ngân hàng sẽ có gửi công văn cho cơ quan bảo hiểm xã hội, công tác phối hợp trong quản lý sẽ dễ dàng hơn. Còn khi người lao động thế chấp cho một người khác thì vấn đề quản lý sẽ rất khó khăn, nếu người lao động xin cấp lại sổ thì sẽ không có căn cứ để từ chối.

Qua những phân tích như trên, người lao động cần phải cân nhắc một cách kĩ lưỡng khi quyết định thế chấp sổ bảo hiểm xã hội. Hơn nữa, cần phải nắm được các quy định của pháp luật để đảm bảo không được vi phạm pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền lợi của mình, hạn chế rủi ro cho người nhận thế chấp cũng như tránh được những rắc rối trong công tác quản lý của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Trân trọng./.

Trung Tâm Dịch Vụ Việc Làm Hải Dương: Thực Hiện Tốt Chế Độ Bảo Hiểm Thất Nghiệp, Góp Phần Đảm Bảo An Sinh Xã Hội

Hiện, toàn tỉnh hải Dương có 4.504 đơn vị, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức trên địa bàn tham gia bảo hiểm thất nghiệp với 262.864 lao động có giao kết hợp đồng đã tham gia BHTN. Trong quá trình chi trả trợ cấp thất nghiệp (TCTN), để hạn chế các trường hợp có việc làm nhưng vẫn hưởng trợ cấp dẫn đến việc phải thu hồi, Trung tâm đã phối hợp với BHXH tỉnh đối chiếu, rà soát 8.313 hồ sơ trước khi trình lãnh đạo thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành quyết định và trong thời gian hưởng TCTN, qua đó, đã phát hiện hơn 200 lao động đã có việc làm trong thời gian hưởng TCTN. Đối với người lao động, Trung tâm tư vấn trực tiếp, phát tờ rơi để họ hiểu về các quyền lợi được hưởng và trách nhiệm định kỳ phải thông báo về tình hình tìm kiếm việc làm hàng tháng, hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về BHTN.

Người lao động tham gia sàn giao dịch việc làm

Trong năm 2016, Trung tâm phối hợp với BHXH tỉnh và Chi nhánh ngân hàng Agribank tại Hải Dương hướng dẫn người lao động mở tài khoản ATM ngay khi nộp hồ sơ đề nghị hưởng TCTN để trả tiền TCTN qua thẻ ATM và bàn giao thẻ BHYT cho Trung tâm trả cho người lao động vào ngày trả kết quả hưởng TCTN. Quy trình phối hợp này giúp các đối tượng hưởng TCTN được khám chữa bệnh kịp thời, tiết kiệm được thời gian, công sức đi lại.

Trung tâm luôn chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp tuyên truyền chính sách với các cơ quan như Phòng Lao động tiền lương – Bảo hiểm xã hội (thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội), Ban Chính sách Liên đoàn Lao động tỉnh… tổ chức 20 hội nghị phổ biến chính sách pháp luật về BHTN tại doanh nghiệp, thu hút sự tham gia của gần 6.200 lao động; cử cán bộ đi tuyên truyền trực tiếp chính sách cho người sử dụng lao động, góp phần giảm bớt các vi phạm về hưởng BHTN; phối hợp thường xuyên với Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh tổ chức các chương trình tư vấn, giao lưu trực tuyến với tần suất 1 lần/tháng và đều được các đài phát thanh các huyện, thị xã, thành phố tiếp âm, phát sóng trực tiếp; phối hợp với Báo Hải Dương và một số cơ quan báo chí Trung ương đăng tải nhiều bài viết, chuyên mục về chế độ BHTN; tổ chức duy trì hệ thống Tổng đài 19006128 để giải đáp thắc mắc về chế độ BHTN với tần suất khoảng 17.000 lượt người gọi đến mỗi năm. Ngoài ra, người lao động và doanh nghiệp cũng có thể tra cứu đầy đủ thông tin về chế độ BHTN trên trang Website của Trung tâm. Đặc biệt, tại các phiên giao dịch việc làm định kỳ thứ 5 hàng tuần, phiên giao dịch lưu động, giao dịch việc làm online kết nối với các tỉnh khu vực Bắc – Trung – Nam và khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Trung tâm đều tổ chức tư vấn, phát tờ rơi miễn phí cho người lao động và đại diện doanh nghiệp tham gia

Tư vấn việc làm cho người lao động tại trung tâm

Theo bà Lê Thị Phương Hoa, Giám đốc Trung tâm, cho biết, để tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động đến đề nghị hưởng TCTN, Trung tâm tổ chức 2 điểm tiếp nhận hồ sơ và 4 điểm uỷ thác giải quyết chế độ. Và để làm tốt nhiệm vụ được giao, Trung tâm luôn chủ động nghiên cứu, áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về BHTN, tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Đẩy mạnh công tác tư vấn giới thiệu việc làm, dạy nghề, phân luồng tư vấn việc làm chuyên sâu cho người lao động. Hướng dẫn cụ thể chế độ hỗ trợ người lao động học nghề, sau đó tùy theo yêu cầu, Trung tâm sẽ đáp ứng theo nguyện vọng cụ thể cho người lao động để hướng dẫn tiếp nhận và nộp hồ sơ giải quyết chế độ cho họ. Theo quy trình giải quyết công việc rõ ràng, chính xác, các hồ sơ đề nghị hưởng TCTN của người lao động luôn được tiếp nhận và giải quyết đúng tiến độ, tạo được sự tin tưởng và đảm bảo quyền lợi cho người lao động theo đúng quy định pháp luật.

Tới đây, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hải Dương sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cơ quan Bảo hiểm Xã hội và ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trong việc thực hiện chính sách; Nâng cao năng lực và chất lượng phục vụ của cán bộ. Đẩy mạnh công tác tư vấn giới thiệu việc làm, dạy nghề, thông tin thị trường lao động, nhu cầu chỗ làm việc trống cho người lao động bị mất việc; Tổ chức các phiên giao dịch việc làm chuyên đề cho lao động thất nghiệp; Mở rộng mạng lưới tiếp nhận, giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp trên địa bàn, nhất là những địa điểm xa Trung tâm, những nơi có số lượng lao động lớn để người lao động thất nghiệp tiếp cận giải quyết chế độ một cách nhanh chóng thuận lợi nhất.